|
|
Trả lời:
Trước hết, tôi cần nói lại một lần nữa về tội và ḷng thương xót, tha
thứ của Chúa, là Cha rất nhân từ. Chúa chê ghét mội tội lỗi, nhưng lại
yêu thương người có tội biết ăn năn, sám hối.
Do hậu quả của tội Nguyên tổ, bản chất con người đă trở nên yếu đuối và
rất dễ sa ngă, mặc dù được tái sinh qua phép rửa, được tha thứ một lần
khỏi tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân khác. Nhưng sau đó, chính v́ bản
chất yếu đuối nói trên, cộng thêm sự cám dỗ mănh liệt của ma quỉ và
gương xấu của thế gian, mà con người vẫn c̣n nguy cơ phạm tội cá nhân
nhiều lần nữa. Nguy cơ này kéo dài suốt cả đời người cho đến giờ hấp hối
trên giường bệnh. Và chỉ khi linh hồn ra khỏi xác, con người mới hết
nguy cơ bị cám dỗ và phạm tội mà thôi.
V́ thế, Chúa Giêsu đă dạy các Tông Đồ rằng: “Anh
em hăy canh thức mà cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. V́ tinh thần
th́ hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Mt
26:41).
Thánh Phêrô cũng cảnh cáo chúng ta về nguy cơ của tội đến từ ma quỉ như
sau: “Anh
em hăy sống tiết độ và tỉnh thức v́ ma quỉ, thù địch của anh em, như sư
tử gầm thét rảo quanh t́m mồi cấu xé.” (1
Pr 5:8)
Như thế, tội lỗi là một thực trạng của con người sống trên trần thế này.
Chính v́ vậy mà Chúa Giêsu, trước khi về Trời, đă lập bí tích Hoà Giải
để giúp con người giao hoà lại với Chúa sau khi đă lỡ phạm tội v́ yếu
đuối và v́ ‘sa chước” cảm dỗ. Chúa Giêsu đă trao cho các Tông Đồ và
những người kế vị, quyền tha tội cho mọi hối nhân như sau: “Anh
em tha tội cho ai th́ người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai th́ người ấy
bị cầm giữ.” (Ga
20:23)
Đây là nền tảng thần học và kinh thánh của bí tích Hoà giải (xưng tội)
qua đó, Chúa Kitô tiếp tục tha tội cho chúng ta qua sứ vụ của các thừa
tác viên có chức thánh, là Giám Mục và Linh mục. Theo giáo lư của Giáo
Hội, tội được chia ra làm hai loại: tội trọng và tội nhẹ. Nhưng mọi tội
đều có thể được tha, nếu thực tâm thống hối và c̣n tin tưởng vào ḷng
thương xót của Chúa. Riêng tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, tức là tội
chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn th́ không thể tha được, v́ kẻ đă chối Chúa,
không tin có Chúa th́ chạy đến với ai mà xin tha thứ được? (x.
Mc 3:28-29).
Nhưng sau khi được tha mọi tội qua bí tích ḥa giải, hối nhân vẫn c̣n
phải làm một số việc lành để đền tội theo chỉ dẫn của cha giải tội. Lư
do là : “Ơn
tha tội xoá mọi tội lỗi, nhưng không sửa chữa được những xáo trộn mà tội
đă gây ra” như Thánh Công Đồng Trentinô đă dạy (x
SGLCG, số 1459).
Nói khác đi, khi ta thành tâm xưng tội, th́ tội được tha và giúp ta lấy
lại t́nh thân với Chúa. Nhưng phải làm một số việc lành tương xứng để
đền bù lại. Thí dụ, lấy của ai cái ǵ, th́ phải trả lại người ấy cách
nào đó v́ phép công bằng đ̣i buộc như vậy. Giết người không thể đền mạng
được, nhưng phải làm việc ǵ có giá trị bảo vệ sự sống để đền bù lại.
Nghĩa là không thể đọc năm ba kinh Lậy Cha, Kính Mừng để đền tội giết
người hay làm thiệt hại danh dự và tài sản của người khác được. Đây là
việc “đền
tội” mà các cha giải tội đ̣i hối nhân phải làm để sửa chữa những hậu
quả do tội gây ra, sau khi đă xưng và được tha qua ơn phép tha tội.
Mặt khác, cũng theo giáo lư của Giáo Hội, th́ tội mang lại hai hậu sau
đây, tùy mức phạm là nặng hay nhẹ:
Tội trọng làm mất tức khắc sự hiệp thông với Chúa là t́nh yêu; và nếu
chết không kịp sám hối và được tha qua bí tích hoà giải, th́ sẽ phải
chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hoả ngục (x.
SGLCG,số 1033-35).
Tội nhẹ không cắt đứt sự hiệp thông với Chúa, nhưng cũng gây thương tổn
phần nào cho sự hiệp thông này, nên cũng cần được tha thứ và thanh tẩy.
Cả hai loại tội trọng và tội nhẹ, sau khi được tha qua bí tích hoà giải,
đều để lại hậu quả xáo trộn nhiều ít trong tâm hồn hối nhân, như Thánh
Công Đồng Trentinô đă dạy trên đây.
V́ thế, hối nhân cần được thanh tẩy mọi hậu quả của tội qua việc “đền
tội” để xoá đi cái gọi là “h́nh
phạt hữu hạn” sau khi tội được tha nhờ bí tích hoà giải. Việc đền
tội này, nếu không làm đầy đủ khi c̣n sống th́ phải được thanh luyện sau
khi chết trong nơi gọi là “Luyện tội”. Và đây là lư do v́ sao Giáo Hội
daỵ các tín hữu c̣n sống, phải làm việc lành và cầu nguyện cho các linh
hồn nơi luyện tội để giúp họ mau thoát khỏi h́nh phạt hữu hạn nói trên,
để gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Đàng, hưởng Nhan Thánh Chúa
đời đời.
H́nh phạt hữu hạn không phải là sự “trả thù” của Chúa. Cũng không phải
v́ Chúa không tha thứ hoàn hoàn cho con người, mà v́ hậu quả của tội gây
ra cho hối nhân cần được sửa chữa mà thôi (x.
SGLGH CG,số 1472).
Nói cách cụ thể, ta có thể tạm dùng h́nh ảnh này để minh họa cho điều
vừa giải thích trên đây: tội lỗi được ví như những cái đinh đóng vào
tường. Khi đinh được gỡ đi th́ để lại những lỗ hổng to hay nhỏ trên
tường, tùy đinh to hay nhỏ. Ví thế, phải lấp các lỗ này sau khi đinh
được tháo gỡ để mặt tường được nhẵn nhụi, phẳng phiu trở lại. Việc đền
tội cũng được ví tương tự như vậy. Sau khi được tha, tội ví như đinh
được rút ra khỏi tường nhưng lổ hổng c̣n để lại. Vậy phải lấp các lỗ
hổng này bằng việc đền tội để tẩy xoá đi những hậu quả do tội để lại
trong tâm hồn hối nhân.
Đó là lư do v́ sao hối nhân phải làm việc “đền tội” sau khi đă xưng các
tội nặng nhẹ với thừa tác viên có chức thánh, là Giám mục hay lịnh mục,
tức những người được quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in
personna Christi) như Giáo Hội dạy.
Cũng cần nói thêm một lần nữa, là xưng tội và đềN tội rồi, th́ phải
quyết tâm chừa bỏ tội lỗi để luôn sống trong t́nh yêu của Chúa, nghĩa là
không được lợi dụng ḷng thương xót tha thứ của Chúa để cứ phạm tội, rồi
lại đi xưng tội. Làm như vậy là lạm dụng ḷng khoan dung của Chúa và làm
hư phép giải tội. Cha giải tội có thể từ chối ban phép tha tội nếu biết
hối nhân cứ xưng đi xưng lại một tội nhiều lần, nghĩa là không cố gắng
chừa tội.
Ước mong giải thích này thoả măn câu hỏi được đặt ra.
Linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn